Nâng cao chất lượng đóng góp của khu vực kinh tế FDI

Khu vực FDI vẫn là điểm sáng

Số doanh nghiệp (DN) FDI thực tế đang hoạt động tính đến thời điểm 01/01/2009 là 5.625 DN, chỉ chiếm 2,7% tổng số DN tại Việt Nam. Tuy nhiên, khu vực kinh tế này trong những năm vừa qua đã có đóng góp khá tích cực vào nền kinh tế Việt Nam.

Tỷ trọng đóng góp vào GDP của khu vực này đã tăng lên gấp gần 2,5 lần trong vòng 10 năm từ 1995-2005 lên xấp xỉ 16%, tới 2009 con số này ước tính là 18,33%. Tỷ trọng đóng góp vào ngân sách cũng tăng gấp 2 trong vòng 8 năm và đạt 10,52% vào năm 2008. Đáng kể nhất là đóng góp vào giá trị sản xuất công nghiệp của toàn nền kinh tế trong 10 năm 1996-2006 đã tăng hơn 1,5 lần và ở mức cao, đạt 44,4% vào năm 2008. Khu vực này cũng thu hút một lượng lao động lớn, chiếm 22,2% tổng số lao động tại DN.

Bảng 1: Đóng góp của khu vực FDI so với các khu vực khác


Đóng góp NS

Đóng góp giá trị CN

Đóng góp GDP

 

2006

2007

2008

2006

2007

2008

2006

2007

2008

NN

31.87%

28.89%

29.80%

22.4%

20.0%

18.5%

37.4%

35.9%

35.5%

Ngoài NN

15.18%

17.89%

18.94%

33.4%

35.4%

37.1%

45.6%

46.1%

46.0%

FDI

17.78%

18.02%

19.08%

44.2%

44.6%

44.4%

17.0%

18.0%

18.4%

Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Một nét sáng nữa của các doanh nghiệp FDI đó là khu vực này hiện đang đạt hiệu quả kinh doanh cao với lợi nhuận trước thuế chiếm tới 48,1%. Cùng với đó, trong 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam về doanh thu theo Bảng xếp hạng VNR500 qua các năm, các chỉ tiêu hiệu quả như ROA và ROE của khu vực FDI vẫn vượt trội so với khu vực Nhà nước và ngoài nhà nước, trong đó, năm 2008 chỉ tiêu ROA của DN FDI cao hơn 3-4 lần, ROE cao hơn gần 2 lần so với 2 khu vực kinh tế còn lại (bảng 2).

Bảng 2: Chỉ tiêu hiệu quả so sánh giữa các khu vực kinh tế

 

ROA

ROE

 

NN

Tư nhân

FDI

NN

Tư nhân

FDI

2006

0,04

0.03

0,27

0,26

0.35

0,62

2007

0,03

0.04

0,15

0,15

0.20

0,31

2008

0,04

0.03

0,14

0,15

0.15

0,28

Nguồn: Dữ liệu các BXH VNR500, Vietnam Report

Những mảng tối vẫn tồn tại

Tuy nhiên, trong khi khu vực FDI được kỳ vọng nhất là nâng cao năng lực của người lao động và chuyển giao công nghệ sản xuất thì hiệu quả đầu tư của khu vực FDI về cả hai phương diện này đều tỏ ra đang đi ngược lại với kỳ vọng trên của các nhà hoạch định chính sách. Bức tranh về DN FDI vẫn có những mảng sáng tối xen lẫn nhau.

Thứ nhất, số lao động trong khu vực FDI chủ yếu là lực lượng lao động nữ, tay nghề thấp. Xét về cơ cấu lao động, kể cả đối với các doanh nghiệp được gọi là "lớn" của khu vực FDI nằm trong Top500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, tỷ lệ lao động nữ vẫn chiếm áp đảo, với các công việc chân tay đơn thuần là chủ yếu. Thêm vào đó, thu nhập của những người lao động tại đây cũng rất khiêm tốn. Tính trung bình, các DN thuộc khu vực nhà nước có mức thu nhập lao động là 192 triệu/ng/năm năm 2008, trong khi con số này ở các DN thuộc khu vực FDI chỉ bằng phân nửa là 97,5 triệu/ng/năm.

Bảng 3: Cơ cấu và thu nhập lao động của các doanh nghiệp FDI trong BXH VNR500

 

2007

2008

 

Lao động nữ (%)

Thu nhập (tr.đ/ ng/năm)

Lao động nữ (%)

Thu nhập (tr.đ/ng/năm)

FDI

69.39%

79,026

67.59%

97,572

NN

35.00%

157,257

35.18%

192,550

Tư nhân

67.92%

111,371

48.86%

59,970

Nguồn: Dữ liệu các BXH VNR500, Vietnam Report

Hơn nữa, số lao động được đào tạo là rất hạn chế, có nhà máy mấy chục ngàn công nhân mà chỉ khoảng ba chục người được đi nước ngoài vài tuần gọi là "đào tạo". Cho tới hiện nay, dường như các DN nước ngoài tìm tới Việt Nam để đầu tư sản xuất chủ yếu vẫn với suy nghĩ là tận dụng nguồn nhân công "dồi dào, giá rẻ" chứ chưa phải là tìm cách khai thác những lợi thế khác của Việt Nam. Chính vì vậy mà việc trả lương cho nhân công cao hay đào tạo nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp FDI là điều đã bị coi nhẹ. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận một thực tế rằng, nguồn nhân lực của chúng ta vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn và cần khắc phục. Đối với các DN nói chung, số nhân lực có đủ chuyên môn trình độ đã ở dạng hiếm, thì điều này ở các DN FDI e rằng cũng không phải là ngoại lệ. Mặc dù vậy, so với 2 khu vực kinh tế còn lại, DN FDI dường như chưa đáp ứng được mong mỏi của nước chủ nhà.

Hai là, việc đầu tư sử dụng công nghệ mới và chuyển giao công nghệ mới còn rất hạn chế ở các DN: Một nghiên cứu gần đây về hiệu quả của khu vực FDI thông qua các chỉ số về năng suất như ICOR (tỷ số gia tăng vốn và đầu vào) và TFP (hệ số năng suất các nhân tố tổng hợp) đã cho kết quả rằng trong giai đoạn 2004-2009, hệ số TFP của các khu vực kinh tế nhà nước, tư nhân và DN có FDI lần lượt là: 8,6; 3,1 và -17,6. Theo tác giả, hệ số TFP của khối nhà nước cao nhất cho thấy mặc dù vốn đầu tư rót vào khu vực này nhiều (đầu tư không hiệu quả) nhưng sự chuyển giao công nghệ là có thật. Nói cách khác, doanh nghiệp công "cũng có mang lại đổi mới công nghệ". Trong khi ở khối FDI thì chỉ số này lại âm (-17,6). Như thế nghĩa là ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, sự tăng trưởng chủ yếu nhờ các yếu tố khác, ví dụ lao động rẻ mạt, chứ không phải do công nghệ. Trên thực tế, khảo sát ở nhiều DN FDI cho thấy máy móc, công nghệ được đối tác nhập vào Việt Nam đều cũ kỹ hoặc đã khấu hao hết.

Ngoài ra, hiện trạng các DN FDI sử dụng các máy móc cũ kỹ gây ô nhiễm môi trường cũng đã bị phát hiện hơn một lần. Tuy nhiên, do lợi thế được ưu đãi và trải thảm đỏ mời mọc, các DN FDI vẫn tiếp tục được làm ngơ trước những vi phạm về đạo đức kinh doanh và cũng như luật pháp của họ.

Cần một tư duy mới khi kêu gọi các dự án đầu tư

Vấn đề lựa chọn và cấp giấy chứng nhận đầu tư cần gắn với lợi ích chung của nền kinh tế và phải ưu tiên những lợi ích chỉ có thể đem lại từ bên ngoài, như là kiến thức kỹ năng và chuyển giao công nghệ. Đã đến lúc Việt Nam cần đặt mục tiêu phát triển bền vững lên bước ưu tiên trong việc kêu gọi dự án FDI và hướng đến quá trình chuyển giao công nghệ mới, hiện đại, chất lượng cao thay vì công nghệ lạc hậu hoặc máy móc khấu hao nhiều như các DN FDI hiện nay. Đồng thời, cần phải có những yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực đối với DN FDI bên cạnh chính sách phát triển nguồn nhân lực chung của quốc gia, ví dụ như khuyến khích các DN có kế hoạch tuyển dụng và phát triển nguồn nhân lực tại chỗ ngay từ khi nộp hồ sơ xin cấp giấy phép. Khi lựa chọn dự án với các loại hình DN, kể cả DN FDI, chúng ta cần quen dần với việc nói không với các dự án chưa đáp ứng các đòi hỏi của định hướng phát triển bền vững của vùng hay đất nước, để bảo đảm chất lượng phát triển lâu dài.