Doanh nghiệp Việt Nam với hoạt động đầu tư vào Lào

 

1. Tổng mức đầu tư và quy mô đầu tư của DN Việt Nam ở Lào giai đoạn 2005-2010

Kể từ năm 1989, Việt Nam bắt đầu đầu tư ra nước ngoài vào thị trường Nhật Bản. Đến năm 1993, dự án đầu tiên về khai thác thiếc của Việt Nam đăng ký đầu tư vào thị trường Lào. Nhưng giai đoạn 1993-1998, các dự án của Việt Nam đăng ký đầu tư vào Lào ít (chỉ có 4 dự án với tổng vốn đăng ký 2,8 triệu USD). Từ năm 1999 các dự án đầu tư vào Lào mới tăng trưởng nhanh về cả số lượng và chất lượng (quy mô) dự án. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp là lĩnh vực có sự tăng trưởng nhanh đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam vào Lào giai đoạn 2005-2010 (đạt 88 dự án đầu tư).

Bảng 1: Giá trị đăng ký đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam tại Lào giai đoạn 2005-2010

Đơn vị tính: Triệu USD

Lĩnh vực

2005

2006

2007

2008

2009

2010

Tổng

Bình quân cả giai đoạn

Nông-Lâm nghiệp

122,08

44,46

217,69

254,81

98,81

6,22

744,06

21,3

Xây dựng

 

 

 

1,44

5,58

32,11

39,12

4,9

Công nghiệp

328,37

9,93

472,48

259,06

180,46

40,15

1.290,45

14,7

Dịch vụ

 

0,77

2,56

119,79

1.017,57

53,63

1.194,33

36,2

Tổng cộng

450,45

55,16

692,72

635,10

1.302,42

132,11

3.267,96

19,9

Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, Bộ kế hoạch và đầu tư

Có thể thấy tình hình đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam sang Lào có sự tăng trưởng mạnh về tổng mức đăng ký đầu tư. Nếu năm 2005 chỉ có 450,45 triệu USD vốn đăng ký đầu tư, thì đến năm 2007 đã đạt đến 692,72 triệu USD đăng ký đầu tư, đến năm 2009 đạt 1.302,42 triệu USD vốn đăng ký đầu tư. Giai đoạn 2005-2009, giá trị vốn đăng ký đầu tư tăng 2,89 lần, tốc độ tăng trưởng bình quân tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 30,3%/năm. Riêng năm 2010, số dự án đầu tư tăng lên 26 dự án; tuy nhiên, tổng mức đầu tư giảm xuống chỉ còn 132,11 triệu USD.

Mức đầu tư bình quân trong ngành dịch vụ đạt 36,2 triệu USD/dự án là mức đầu tư rất cao nhưng trên thực tế, hầu hết các dự án đều có quy mô nhỏ. Quy mô đầu tư bình quân chỉ tăng lên rất nhiều sau khi có dự án của công ty cổ phần đầu tư và kinh doanh Golf Long Thành đầu tư vào lĩnh vực sân Golf và bất động sản tại thủ đô Viêng Chăn vào năm 2009 với mức đăng ký đầu tư 1 tỷ USD.

Các dự án đầu tư vào ngành Nông - Lâm nghiệp có quy mô bình quân đạt 21,3 triệu USD/dự án là mức đầu tư tương đối cao. Bởi vì đa số dự án trong lĩnh vực Nông - Lâm nghiệp là dự án trồng cây cao su cần đầu tư ở mức lớn, tổ chức sản xuất kiểu công nghiệp mới đảm bảo hiệu quả sản xuất.

Ngành công nghiệp có quy mô đầu tư bình quân đạt 14,7 triệu USD/dự án, là ngành có mức đầu tư thấp hơn mức trung bình (19,9 triệu USD).

Ngành xây dựng có quy mô dự án đầu tư bình quân thấp nhất do các doanh nghiệp lớn không mấy quan tâm đến lĩnh vực này vì hiệu quả đầu tư thấp. Nguyên do: khi nhận công trình thi công, các doanh nghiệp không chỉ không được ứng vốn, không được thanh toán từng phần, mà còn bị nợ rất lâu, thường rất khó thu hồi nợ.

Quy mô bình quân các dự án đăng ký đầu tư giai đoạn 2005-2010 đạt 19,9 triệu USD/ dự án là quy mô khá cao đối với các dự án đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam ở Lào. Nếu đầu tư thực hiện đúng tiến độ và đạt giá trị đăng ký này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam hoạt động tại Lào, tăng hiệu quả kinh doanh và tận dụng tốt lợi thế về quy mô trong sản xuất kinh doanh.

2. Hiệu quả đầu tư tại Lào

Hiệu quả kinh tế

Để đánh giá kết quả thực hiện đầu tư ở Lào, tác giả đã tiến hành điều tra khảo sát một số dự án ở Lào trong lĩnh vực công nghiệp. Theo kết quả khảo sát, số doanh nghiệp chưa có lợi nhuận chiếm tỷ trọng lớn trong số các doanh nghiệp được khảo sát (50%); số doanh nghiệp có lợi nhuận vẫn ở mức trung bình và thấp vẫn là chủ yếu. Các doanh nghiệp có lợi nhuận chỉ tập trung vào ngành khai thác khoáng sản (6 doanh nghiệp tương đương 33% tổng số doanh nghiệp được khảo sát) và nhóm ngành CN chế biến chỉ có 2 doanh nghiệp (tương đương 17% số doanh nghiệp được khảo sát).

Đặc điểm của các dự án có hiệu quả là các dự án được đăng ký đầu tư từ những năm đầu của giai đoạn 2005- 2010 (2005 có 3 dự án có hiệu quả, năm 2007 có 4 dự án; năm 2008 có 1 dự án). Số liệu điều tra này cũng phù hợp với thực tế vì các dự án nhóm ngành CN khai thác và dự án thuộc nhóm ngành CN chế biến thường đòi hỏi thời gian triển khai dài, cần nhiều năm mới có thể khai thác và hoạt động kinh doanh.

Nếu xét theo tổng mức đăng ký đầu tư của các dự án được khảo sát là 961,9 triệu USD thì giá trị lợi nhuận của các dự án được khảo sát đem về là một con số rất nhỏ (khoảng 0,37 triệu USD/năm). Tuy nhiên, các dự án thủy điện vẫn là các dự án đang đầu tư, chưa phát huy hiệu quả (trong khi tổng mức đầu tư lớn) cũng làm giảm hiệu quả chung của các dự án được khảo sát.

Hiệu quả xã hội

* Tăng nguồn thu cho ngân sách: Trong kết quả điều tra khảo sát các doanh nghiệp có đầu tư CN vào Lào thì giá trị tiền thuế đóng góp của các dự án OFDI Việt Nam ở Lào chưa thật sự ấn tượng. Trong số 16 doanh nghiệp trả lời kết quả điều tra thì có 9 doanh nghiệp (chiếm tỷ trọng 56,25% số dự án) là nộp thuế cho Nhà nước Việt Nam cụ thể như sau:

- Số doanh nghiệp nộp thuế dưới 300 triệu đồng/năm: 4 doanh nghiệp (3 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành CN khai thác và 1 thuộc nhóm ngành CN chế biến)

- Số doanh nghiệp nộp thuế từ 300-500 triệu đồng/năm: 4 doanh nghiệp (3 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành khai thác, 1 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành chế biến)

- Số doanh nghiệp nộp thuế từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng/năm: 1 doanh nghiệp (thuộc nhóm ngành CN khai thác)

- Số doanh nghiệp nộp thuế trên 1 tỷ đồng/năm: 2 doanh nghiệp (trong đó 1 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành CN khai thác và 1 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành SX và phân phối điện khí đốt và nước).

- Số doanh nghiệp không nộp thuế cho Nhà nước: 7 doanh nghiệp (chiếm tỷ lệ 43,75% số doanh nghiệp trong mẫu điều tra).

Như vậy, mục tiêu tăng thu cho ngân sách đối với các dự án đăng ký đầu tư giai đoạn 2005-2010 của doanh nghiệp Việt Nam là chưa đạt được đáng kể so với tiềm năng. Mức này thậm chí có thể còn thấp hơn mức nộp ngân sách mà Nhà nước Việt Nam có thể thu được nếu các doanh nghiệp trên đầu tư ở ngay trong nước. Phần thuế đóng góp cho ngân sách Nhà nước Việt Nam cũng còn thấp so với giá trị vốn đăng ký đầu tư của dự án.

* Khai thác nguyên liệu đầu vào giá rẻ phục vụ sản xuất tại Việt Nam: Hiện nay các dự án hầu hết là đang trong giai đoạn thi công, thăm dò nên việc cung ứng sản phẩm về Việt Nam còn hạn chế. Các sản phẩm cung ứng của dự án tập trung là Thạch cao (khoảng 200.000 tấn/năm), sản phẩm gỗ nhập khẩu về Việt Nam (khoảng 60.000 m3/năm).

* Tạo việc làm cho lao động Việt Nam: Các dự án CN đầu tư ở Lào hầu hết đều sử dụng lao động trực tiếp và gián tiếp. Tuy nhiên, do sự giới hạn của luật pháp nước bạn nên chính các doanh nghiệp Việt Nam không thể đưa nhiều lao động sang làm việc tại Lào. Tại thời điểm khảo sát (30/9/2009), số lao động Việt Nam làm trong các dự án CN của doanh nghiệp Việt Nam tại Lào khoảng 5.600 người, chiếm 58% tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào Lào. Theo số đó, lượng lao động Việt Nam tập trung làm việc trong ngành SX và phân phối điện nước, chiếm tỷ lệ 54%, số lao động tập trung làm việc trong CN khai thác chiếm 34% và số lao động tập trung làm việc trong ngành CN chế biến là 12%.

Bảng 2: Lao động đang làm việc tại các dự án CN Việt Nam ở Lào

TT

Ngành CN

Lao động Việt

Lao động Lào

Tỷ lệ lao động Việt Nam

1

CN chế biến

720

2.000

26%

2

CN khai thác

1.880

1.600

54%

3

SX và phân phối điện, khí đốt và nước

3.000

400

88%

 

Tổng cộng

5.600

4.000

58%

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của các doanh nghiệp tại hội nghị phát triển và sử dụng lao động Việt Nam tại Lào tổ chức tại Thành phố Đà Nẵng

Tuy nhiên, thực tế lao động Việt Nam làm việc tại các dự án đầu tư CN của Việt Nam tại các thời điểm trong năm thường biến động mạnh (tính mùa vụ cao, nhất là giữa mùa mưa và mùa khô). Theo quy định hiện hành của Lào, lao động Việt Nam làm việc ở các dự án chỉ được chiếm tỷ lệ không quá 10% tổng số lao động, trong khi đó theo số liệu báo cáo chính thức của các doanh nghiệp (xem bảng 2) thì lao động Việt Nam làm việc tại Lào vượt xa con số 10%. Thêm vào đó, do sự lách luật của các doanh nghiệp, con số lao động kê khai với chính quyền địa phương thường thấp hơn thực tế.

* Tạo ổn định tuyến biên giới Việt Lào: Một số dự án đầu tư của các nhà đầu tư Việt Nam giai đoạn 2005-2010 tại vùng lân cận biên giới Việt Nam và Lào đã góp phần đầu tư đường, trường học, hệ thống điện và nước sạch cũng như các hạng mục công trình CN để phục vụ dự án... Các dự án này tập trung vào các địa bàn giáp ranh của Quân khu II, Quân khu IV, quân khu V của Việt Nam. Dự án lớn trong số các dự án đầu tư nhằm ổn định này là dự án thủy điện Nậm Mô thuộc Tổng công ty Hợp tác Kinh tế Việt Lào đầu tư, dự án đầu tư Công ty phát triển miền núi của công ty Hợp tác Kinh tế quân khu IV, các dự án thuộc công ty đầu tư và phát triển Sông Mã....

3. Nguyên nhân thành công, hạn chế của hoạt động OFDI của doanh nghiệp Việt Nam ở Lào giai đoạn 2005-2010 nhìn từ phía doanh nghiệp

3.1 Nguyên nhân thành công

Thứ nhất, doanh nghiệp đã ý thức rõ sự cần thiết phải thực hiện OFDI ở Lào, xác định cụ thể mục tiêu của mỗi doanh nghiệp. Bởi vậy, các doanh nghiệp đã chủ động và tích cực tiến hành điều tra, khảo sát thị trường, tìm hiểu môi trường kinh doanh nước bạn để lựa chọn cơ hội đầu tư phù hợp.

Thứ hai, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động cùng liên doanh, liên kết, tìm kiếm đối tác nhằm phát hiện, cùng đầu tư các dự án mới, hoạt động tìm kiếm đối tác trong các cuộc hội nghị hội thảo về đầu tư ở Lào để cùng liên kết góp vốn, liên doanh liên kết đầu tư, chia sẻ các cơ hội đầu tư. Hoạt động tìm kiếm đối tác cùng đầu tư đã tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong các dự án ở Lào.

Thứ ba, qua quá trình đầu tư, doanh nghiệp cũng đã đúc rút được những kinh nghiệm để vận hành tốt doanh nghiệp OFDI tại Lào, không ngừng nỗ lực tuyển dụng lao động Lào vào cùng làm việc với Lao động Việt Nam, sử dụng lao động Việt Nam để kèm cặp, hướng dẫn lao động Lào thực hiện các công đoạn từ đơn giản đến phức tạp trong dây chuyền sản xuất; doanh nghiệp đã quy hoạch và sử dụng được lao động giá rẻ của Lào làm việc tại các dự án đầu tư của Việt Nam với tỷ trọng ngày càng tăng, góp phần giảm chi phí đầu tư, tăng hiệu quả của doanh nghiệp.

Thứ tư, gắn liền với tạo điều kiện làm việc và hướng dẫn lao động Lào làm việc tại các dự án, doanh nghiệp Việt Nam cũng cải thiện điều kiện làm việc cho lao động người Việt Nam ở các dự án tại Lào, đào tạo tiếng Lào cho lao động Việt Nam, tăng lương, thưởng và chế độ đãi ngộ tốt để thu hút được lao động có trình độ tại Việt Nam làm việc ở các dự án tại Lào. Hơn nữa, các doanh nghiệp cũng đã tạo ra được môi trường làm việc bình đẳng giữa lao động Việt Nam và Lào, bố trí lao động Việt Nam đảm bảo yêu cầu sản xuất, tích cực tổ chức các đoàn tham quan học tập kinh nghiệm đầu tư kinh doanh ở Lào cho lao động mới tuyển dụng để làm quen với điều kiện làm việc mới.

Thứ năm, các doanh nghiệp đã tích cực thành lập và đặt ra các mục tiêu cụ thể cho các chi nhánh của doanh nghiệp Việt Nam tại Lào. Do đó đã tăng cường cơ hội tiếp nhận thông tin, xúc tiến đầu tư và tiếp cận các dự án đầu tư đảm bảo tính khả thi cao. Ngoài ra, một nguyên nhân không nhỏ, góp phần vào sự phát triển OFDI của doanh nghiệp Việt Nam tại Lào là việc doanh nghiệp Việt Nam đã quan tâm, tích cực gửi văn bản kiến nghị và đề xuất đến Nhà nước Lào đề nghị điều chỉnh các chính sách, cơ chế ... khi thực hiện đầu tư ở Lào đảm bảo thuận lợi và hiệu quả.

Tóm lại, trong số các nguyên nhân thành công của doanh nghiệp khi đầu tư vào Lào giai đoạn 2005-2010, nguyên nhân quan trọng nhất và xuyên suốt, mang tính quyết định đó là doanh nghiệp đã hiểu và nắm rõ mục đích, tầm quan trọng của việc phát triển đầu tư sang Lào. Khi đã nhận thức rõ mục đích của doanh nghiệp, của Nhà nước nếu đầu tư sang Lào, doanh nghiệp đã tích cực tìm kiếm cơ hội, tuyển dụng lao động, thành lập các chi nhánh...nhằm phát triển đầu tư vào Lào hiệu quả nhất.

3.2 Nguyên nhân hạn chế

Thứ nhất, các doanh nghiệp Việt Nam chưa xây dựng tốt chiến lược đầu tư cấp doanh nghiệp. Khi đầu tư các doanh nghiệp còn có tư tưởng mang tính chụp giật, cơ hội, thiếu trọng tâm; chưa xây dựng được kế hoạch phát triển gắn với từng địa bàn đầu tư, từng ngành nghề đầu tư. Mặt khác, chiến lược đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam chưa bài bản và thiếu định hướng của Nhà nước. Cơ hội thành công của mỗi dự án chưa được đánh giá khách quan mà còn dựa trên phân tích chủ quan của doanh nghiệp đầu tư. Việc đầu tư của doanh nghiệp không nằm trong những chương trình đầu tư dài hạn của Nhà nước Việt Nam, các doanh nghiệp Việt Nam còn cạnh tranh nội bộ với nhau.

Thứ hai, hoạt động liên kết đầu tư giữa các doanh nghiệp bước đầu đã được quan tâm song chưa được thực hiện thường xuyên. Hoạt động xây dựng đối tác chiến lược lâu dài để cung cấp các yếu tố đầu vào, đầu ra của doanh nghiệp OFDI Việt Nam còn hạn chế. Khả năng huy động vốn đầu tư từ nguồn vốn chứng khoán chưa trở thành kênh thường xuyên và chủ chốt. Kênh huy động vốn thực hiện OFDI từ các tổ chức tín dụng Việt Nam chưa thông suốt được do chưa có sự bảo lãnh của doanh nghiệp ở Việt Nam và cơ chế phù hợp cho hoạt động này.

Thứ ba, năng lực cán bộ quản trị dự án của Việt Nam ở Lào chưa tốt, chưa vận dụng các phương pháp quản lý chi phí, thời gian đầu tư hiện đại vào quản lý dự án. Doanh nghiệp cũng chưa tổ chức hoạt động đào tạo, nâng cao kiến thức quản trị dự án cho lao động. Mặt khác, hoạt động phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên quản trị dự án còn thiếu khoa học, chưa thường xuyên và chưa công khai nhiệm vụ của các thành viên quản trị dự án.

Lao động trong doanh nghiệp OFDI Việt Nam chưa được quy hoạch cụ thể để làm việc tại Lào, chưa quen với làm việc trong môi trường đầu tư quốc tế, khả năng làm việc với lao động bản địa còn yếu, sử dụng ngôn ngữ là tiếng Lào còn hạn chế, tư tưởng làm việc ở Lào của lao động Việt Nam còn mang tính tạm thời, thu nhập chưa tương xứng với năng lực và doanh nghiệp chưa trả lương có tính hệ số thu hút lao động.

Cơ sở vật chất phục vụ làm việc và nghỉ ngơi của lao động tại Lào còn sơ sài, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh còn yếu. Bản thân các doanh nghiệp chưa xây dựng được hệ thống cơ sở dịch vụ tốt để phục vụ lao động trong dự án.

Công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam chưa phải là những công nghệ sản xuất tiên tiến. Quá trình đổi mới công nghệ ở Việt Nam còn chậm, công nghệ sản xuất ra sản phẩm có tính cạnh tranh yếu trên thị trường quốc tế.

Thứ tư, giai đoạn trước năm 2008 các nhà đầu tư Việt Nam trên đất bạn chưa tạo dựng được một cơ chế liên kết để tương trợ lẫn nhau trong quá trình đầu tư. Khi Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam - Lào - Campuchia được thành lập, bước đầu đã liên kết được một số doanh nghiệp. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp Việt Nam ở Lào vẫn chưa chủ động gia nhập Hiệp hội để bảo vệ lợi ích doanh nghiệp.

Để hoạt động OFDI vào Lào thực sự có hiệu quả, đạt được các mục tiêu đề ra, các doanh nghiệp Việt Nam cần tận dụng những cơ hội, đẩy lùi thách thức; nắm chắc các nguyên nhân thành công, thất bại để giành chiến thắng trong quá trình đầu tư, kinh doanh tại Lào giai đoạn tiếp theo.