Hoạt động Đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam sau hơn 20 năm nhìn lại

1. Đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam sau hơn 20 năm

Tính đến hết tháng 2/2011, Việt Nam đã có 575 dự án đầu tư vào 55 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với tổng số vốn đăng ký đạt trên 23,7 tỷ USD. Trong đó phần vốn của các doanh nghiệp Việt Nam đã vượt 10 tỷ USD. Điều này khẳng định năng lực cạnh tranh và sự lớn mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam, thể hiện bước chuyển mới về quy mô và phương thức sản xuất từ manh mún và lạc hậu sang có tính chiến lược và hiện đại sau hơn 2 thập kỷ phát triển, góp phần đưa sản phẩm và thương hiệu Việt đến gần hơn với thị trường thế giới.

Nhìn lại hành trình đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, có thể chia ra làm 3 giai đoạn chủ yếu sau:

Giai đoạn 1 từ 1989-1998: nhỏ lẻ và manh mún. Trước khi có Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư 18 dự án ra nước ngoài với tổng vốn đăng ký đạt trên 13,6 triệu USD, quy mô bình quân mỗi dự án đạt 0,76 triệu USD. Việc đầu tư vốn ra nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn này chủ yếu xuất phát từ nhu cầu nội tại của doanh nghiệp. Nguyên nhân là do đầu những năm 1990, lượng vốn FDI vào Việt Nam liên tục gia tăng, nhất là trong lĩnh vực dệt - may, nên lượng quota xuất khẩu hàng năm không đáp ứng đủ năng lực sản xuất. Bên cạnh đó, chính sách "đóng cửa rừng", cấm khai thác đánh bắt gần bờ để bảo vệ tài nguyên, môi trường cũng tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến và  sản xuất hàng tiêu dùng. Vì vậy, nhằm bù đắp các "thiếu hụt trên" nên một số doanh nghiệp Việt Nam đã chuyển địa bàn hoạt động và cơ hội kiếm tìm lợi nhuận sang một số nước láng giềng. Các doanh nghiệp đi tiên phong trong hoạt động này chính là một số doanh nghiệp tư nhân của những địa phương có chung đường biên với 2 nước bạn Lào và Campuchia, trên cơ sở các thỏa thuận hợp tác song phương giữa chính quyền địa phương hai nước.

Giai đoạn 2 từ 1999 - 2005: sự thay đổi lớn cả về chất và lượng. Việt Nam có thêm 131 dự án đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn đăng ký đạt trên 559,89 triệu USD, tăng gấp 7 lần về số dự án và gấp 40 lần về vốn đăng ký so với giai đoạn 1989 - 1998; quy mô bình quân vốn/dự án cũng cao hơn hẳn, đạt 4,27 triệu USD/dự án.

Có được bước tiến lớn này là nhờ vào việc Chính phủ đã kịp thời ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn khác, đánh dấu mốc quan trọng trong việc hình thành cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam đạt được những hiệu quả nhất định.      Đồng thời, vào năm 2005 Chính phủ đã trình Quốc hội luật hóa hoạt động đầu tư ra nước ngoài và có hiệu lực vào tháng 7/2006, bao gồm cả hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam. Tiếp đó, là Nghị định 78/2006/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 09/9/2006 nhằm hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư năm 2005 với 4 mục tiêu chính sau: i) phù hợp với thực tiễn hoạt động; ii) quy định rõ ràng, cụ thể hơn; iii) tăng cường hiệu quả của quản lý nhà nước; và iv) đơn giản hóa thủ tục hành chính. Nghị định 78/2006/NĐ-CP còn quy định các nhà đầu tư và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài), có quyền đầu tư ra nước ngoài, có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh, được lựa chọn hay thay đổi hình thức tổ chức quản lý nội bộ, hình thức đầu tư thích ứng với yêu cầu kinh doanh và được pháp luật Việt Nam bảo hộ; giảm thiểu các quy định mang tính "xin - cho" hoặc "phê duyệt" bất hợp lý, không cần thiết, trái với nguyên tắc tự do kinh doanh, gây phiền hà cho hoạt động đầu tư, đồng thời, có tính đến với lộ trình cam kết trong các thoả thuận đa phương và song phương trong hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là các nguyên tắc đối xử quốc gia và tối huệ quốc. Bên cạnh đó, Nghị định 78/2006/NĐ-CP còn quy định rõ về trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp, hướng dẫn về việc thực hiện mối quan hệ đó, cũng như chế tài khi có những vi phạm từ hai phía (nhà đầu tư và cơ quan, công chức nhà nước) nếu không thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Như vậy, nhờ việc ban hành Luật Đầu tư năm 2005, khuôn khổ pháp lý của hoạt động đầu tư ra nước ngoài đã dần dần được hoàn thiện hơn, đồng thời, Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 quy định về đầu tư ra nước ngoài đã thay thế Nghị định số 22/1999/NĐ-CP; trong khi thủ tục đầu tư ra nước ngoài đã được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng và  đơn giản tại Quyết định số 1175/2007/QĐ-BKH ngày 10/10/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Giai đoạn 3 từ 2006 đến nay: giai đoạn bùng nổ. Tính từ ngày 9/9/2006 (tức là một ngày sau khi Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ra đời) đến hết năm 2007 các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư 100 dự án ra nước ngoài với tổng vốn đăng ký đạt trên 816,49 triệu USD; tuy chỉ bằng 76% về số dự án, nhưng lại tăng gần gấp rưỡi về vốn đăng ký, còn vốn bình quân/dự án cũng cao gần gấp đôi so với giai đoạn 1999 - 2005, đạt 8,16 triệu USD/dự án. Xu hướng này tiếp tục gia tăng mạnh trong năm 2008 với số vốn đăng ký đạt hơn 3 tỷ USD cho 113 dự án cấp mới và 10 dự án tăng vốn.

Năm 2009, do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, nên kế hoạch đầu tư ban đầu có sự điều chỉnh giảm với số vốn dự kiến vào khoảng 2,8 tỷ USD. Nhưng thực tế đã không diễn ra theo đúng kịch bản của cơ quan dự báo khi các doanh nghiệp Việt Nam lại coi đây là cơ hội để mở rộng thị trường và tìm kiếm địa bàn đầu tư mới. Kết quả là năm 2009, vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đạt 7,2 tỷ USD cho 457 dự án bao gồm cả cấp mới và tăng vốn tại hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, bằng 143% kế hoạch và bằng 214% so với toàn bộ quá trình từ 1989 - 2008 xét về vốn. Đây là kết quả khả quan trong bối cảnh luồng FDI toàn cầu có sự suy giảm mạnh dưới tác động của khủng hoảng kinh tế kéo theo sự đổ vỡ của hàng loạt công ty. Điều này được lý giải là do hiệu ứng trễ của kinh tế Việt Nam trước những tác động  của kinh tế thế giới và khu vực, dù nền kinh tế của chúng ta có độ mở khá lớn nếu xét theo tỷ trọng thương mại.

Năm 2010, số dự án đầu tư được cấp phép tuy giảm mạnh so với năm 2009 với chỉ 107 dự án và số vốn đăng ký cũng chỉ đạt 2,926 tỷ USD, gần bằng mức của năm 2008, trong đó vốn thực hiện đạt khoảng 900 triệu USD. Nhưng đây được xem là một cố gắng lớn của các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu đã thực sự đặt chúng ta trước những thách thức lớn về phát triển do phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao và yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng bền vững và hiệu quả hơn chứ không chỉ dựa trên sự gia tăng về vốn, hay nhân công giá rẻ.

Bảng 1: ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM THEO TỪNG GIAI ĐOẠN

 

1989 - 1998

1999 - 2005

2006 - 2/2011

Số lượng vốn (triệu USD)

13,6

559,89

23.126.510.000

Số lượng dự án

18

131

426

Quy mô vốn/dự án (triệu USD)

0,76

4,27

5,429

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.


Tuy nhiên, do thị trường trong nước đang ngày càng trở nên chật hẹp bởi sự tham gia của nhiều công ty có uy tín trên thế giới, sự khan hiếm của một loạt các nguyên liệu sản xuất đầu vào, cộng thêm chí phí vận chuyển đắt đỏ do giá xăng dầu biến động khó lường và những hàng rào quan thuế (cả kỹ thuật và phi kỹ thuật) liên tục được dựng lên; nên để tiếp cận thị trường một cách nhanh chóng và hiệu quả, thì biện pháp FDI vẫn là lựa chọn hàng đầu của giới doanh nghiệp. Chính vì vậy, hai tháng đầu năm 2011, dù kinh tế trong nước còn gặp nhiều khó khăn, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam vẫn đầu tư ra nước ngoài hơn 1,26 tỷ USD vào 16 dự án, tuy thấp hơn 300 triệu USD so với lượng FDI Việt Nam tiếp nhận được trong cùng thời kỳ, nhưng lại gấp 93 lần nếu so với giai đoạn 10 năm đầu khi chúng ta bắt đầu đầu tư ra nước ngoài. Còn nếu tính từ 1999 đến 2005, tổng vốn đầu tư ra nước ngoài giai đoạn đó cũng mới bằng khoảng 58% lượng vốn đăng ký của 2 tháng đầu năm 2011. Đáng chú ý là quy mô bình quân mỗi dự án ở thời điểm này cũng đã được nâng lên cao gấp nhiều lần so với toàn bộ thời gian trước, đạt trung bình 79 triệu USD/dự án, trong khi mỗi dự án FDI mà Việt Nam tiếp nhận được trong cùng thời kỳ chỉ đạt bình quân 14,6 triệu USD/dự án.

Sự bùng nổ này có được, theo chúng tôi, bên cạnh tiềm lực tài chính, năng lực triển khai dự án và kinh nghiệm quản lý ngày càng dày của các doanh nghiệp Việt Nam sau một quá trình dài tích luỹ, thì cần phải kể vai trò xúc tác quan trọng của Đề án "Thúc đẩy đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài" do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào 2/2009; trong đó xác định cả những lĩnh vực ưu tiên đầu tư, cùng những giải pháp hỗ trợ tức thời nhằm giúp hoạt động đầu tư ra nước ngoài đạt được hiệu quả. Đây được xem như "bệ phóng" giúp các doanh nghiệp Việt Nam mạnh dạn tham gia vào thị trường đầu tư quốc tế với quy mô và tầm nhìn mang tính chiến lược. Trong đó, khác so với thời kỳ đầu phần nào mang tính tự phát với sự tham gia của đa phần các doanh nghiệp vừa và nhỏ hay những bước thăm dò mang tính khai phá của một số doanh nghiệp tư nhân như Sacombank hay Hoàng Anh Gia Lai, trong vòng vài ba năm trở lại đây, các tập đoàn kinh tế lớn thuộc sở hữu Nhà nước đã trở thành những người dẫn đầu trong việc khai mở những thị trường mới ngoài biên giới Việt Nam. Tính riêng vốn đầu tư của 5 tập đoàn là Dầu khí, Công nghiệp Than - Khoáng sản, Công nghiệp Cao su, Viettel, Tổng công ty Sông Đà đã chiếm đến 67% lượng vốn chuyển ra bên ngoài để đầu tư của các thành phần kinh tế.

 

2. Hướng vận động của dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam

Về lĩnh vực đầu tư

Các dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam (nếu xét theo giá trị vốn) thường tập trung trước hết vào lĩnh vực công nghiệp khai khoáng hay năng lượng, trong đó có một số dự án quy mô vốn lớn hơn 100 triệu USD, ví dụ dự án đầu tư Thủy điện Xekaman 3 tại Lào có tổng vốn đầu tư 273 triệu USD, dự án thăm dò khai thác dầu khí tại Angiêri có tổng vốn đầu tư 243 triệu USD, hay tại Madagascar có tổng vốn đầu tư khoảng 117 triệu USD, ... Lĩnh vực quan trọng thứ hai là nông - lâm - ngư nghiệp - vốn  là thế mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam, hay các sản phẩm cung cấp cho nông nghiệp như phân bón, trong đó đáng kể nhất là dự án hợp tác trị giá 600 triệu USD giữa Công ty Cổ phần Phân đạm và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo) thuộc Tập đoàn dầu khí Việt Nam với Tập đoàn Phốt phát Cherifie (Office Cherifien des Photphates - OCP), tại Casablanca, Morocco để hình thành nhà máy sản xuất phân bón DAP và Amonia nhằm cung cấp cho thị trường Việt Nam và khu vực. Đây được coi là dự án đầu tư ra nước ngoài lớn nhất từ trước đến nay của Việt Nam. Ngoài ra là hàng loạt các dự án đầu tư trồng cao su, hay cây công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ khác tại Lào và Campuchia. Lĩnh vực chế tạo và dịch vụ cũng trở thành "điểm đến" hấp dẫn của dòng vốn này với số dự án và lượng vốn ngày càng tăng. Ví như dự án của Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel) tại Campuchia trị giá 27 triệu USD nhằm khai thác mạng viễn thông di động; hay như khoản đầu tư của Công ty cổ phần Đầu tư Việt Sô trị giá 35 triệu USD dành để xây văn phòng cho thuê tại Nga... Bên cạnh đó là các dự án trong lĩnh vực giải trí và nghệ thuật, chế biến và chế tạo; tài chính - ngân hàng; bất động sản; bán buôn, bán lẻ; kho bãi; ... cũng được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm đầu tư (Xem thêm Bảng 2). Gần đây, chỉ tính riêng 3 dự án thuộc các lĩnh vực sản xuất và phân phối điện, nước, điều hoà đã chiếm 97% (khoảng trên 1,2 tỷ USD) tổng vốn đầu tư ra bên ngoài của doanh nghiệp Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2011.

Bảng 2: 10 LĨNH VỰC ĐẦU TƯ NHẬN ĐƯỢC SỰ QUAN TÂM NHIỀU NHẤT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM[1]

(Chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

 

 

 

 

 

 

TT

Ngành

Số dự án

Vốn đầu tư của dự án ở nước ngoài (USD)

Vốn đầu tư của nhà đầu tư VN (USD)

Vốn điều lệ của nhà đầu tư VN (USD)

1

Khai khoáng

88

16.912.881.482

4.309.845.565

3.725.845.565

2

Nông - lâm nghiệp; thủy sản

7

2.112.875.678

1.870.369.133

1.677.722.938

3

Nghệ thuật và giải trí

59

1.266.458.757

1.183.169.314

1.183.169.314

4

Sản xuất và phân phối điện, khí, nước, điều hòa

3

1.034.550.000

1.034.550.000

1.034.550.000

5

Thông tin và truyền thông

28

741.322.116

507.456.061

507.456.061

6

CN chế biến,chế tạo

110

558.973.400

437.950.246

437.950.246

7

Tài chính,ngân hàng và bảo hiểm

17

225.128.000

216.451.000

216.451.000

8

Bất động sản

28

394.974.634

159.042.634

159.042.634

9

Bán buôn và bán lẻ; dịch vụ sửa chữa

98

205.201.842

150.786.875

150.286.875

10

HĐ chuyên môn, KHCN

59

42.748.556

36.611.656

36.611.656

11

Các lĩnh vực đầu tư khác*

78

240.607.214

132.626.766

132.626.766

Tổng số

575

23.735.721.679

10.038.859.250

9.261.713.055

Ghi chú: Các lĩnh vực đầu tư khác bao gồm: y tế và trợ giúp xã hội; lưu trú và dịch vụ ăn uống, xây dựng, vận tải và kho bãi, giáo dục, ...

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Về địa bàn

Bên cạnh việc đẩy mạnh và duy trì hoạt động kinh doanh tại các địa bàn truyền thống ở Lào, Campuchia, Nga và Angiêri, các doanh nghiệp Việt Nam đã khai phá thành công một số thị trường mới có mức độ canh tranh và yêu cầu cao về công nghệ, cũng như năng lực triển khai và quản lý dự án tại Mỹ, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan - vốn đang được coi là địa chỉ của các nhà đầu tư hàng đầu tại Việt Nam hiện nay, hay một số nước ở Mỹ Latinh như Venezuela, Cuba, Peru và châu Phi và Trung Đông như Mozambique, Iran, Iraq, ....

Bảng 3: 10 ĐỊA BÀN ĐẦU TƯ TRỌNG ĐIỂM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

TT

Quốc gia/vùng lãnh thổ

Số dự án

Vốn đầu tư của dự án ở nước ngoài (USD)

Vốn đầu tư của nhà đầu tư VN (USD)

Vốn điều lệ của nhà đầu tư VN (USD)

1

Lào

195

3.949.395.766

3.313.110.760

3.120.464.565

2

Campuchia

87

1.938.274.420

1.864.332.156

1.864.332.156

3

Venezuela

2

12.434.400.000

1.825.120.000

1.241.120.000

4

Liên bang Nga

16

1.594.947.407

776.873.090

776.873.090

5

Malaysia

6

811.522.740

411.823.844

411.823.844

6

Mozambique

1

493.790.000

345.653.000

345.653.000

7

Mỹ

73

308.323.570

251.391.570

250.891.570

8

Angiêri

1

562.400.000

224.960.000

224.960.000

9

Cuba

2

125.460.000

125.460.000

125.460.000

10

Madagascar

1

117.360.000

117.360.000

117.360.000

 

 

 

 

 

 

Ghi chú: Xếp thứ tự theo vốn đóng góp của doanh nghiệp Việt Nam

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Tính đến hết năm 2010, quốc gia thu hút được nhiều vốn FDI nhất từ Việt Nam là Lào với 195 dự án trị giá gần 4 tỷ USD, tiếp đó là Campuchia và Venezuela (Xem thêm Bảng 3). Tuy nhiên, theo những động thái diễn ra thời gian gần đây, thì Campuchia đang nổi lên như là ứng cử viên số 1 trong việc thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp Việt khi ngay trong năm 2010 doanh nghiệp 2 nước đã ký thoả thuận hợp tác có giá trị lên tới 6 tỷ USD.

 

3. Triển vọng 5 năm tới

Dự báo trong thời gian tới, theo xu hướng vận động chung của dòng FDI thế giới, hoạt động đầu tư nội khối giữa các nước đang phát triển sẽ tiếp tục gia tăng, trong đó khuynh hướng đầu tư mới hay thông qua M & A vẫn sẽ là hình thức đầu tư chủ yếu. Trong đó, các lĩnh vực nhận được sự quan tâm đầu tư ở các nước đang phát triển vẫn chủ yếu là khai khoáng, chế tạo, ngân hàng, dịch vụ khách sạn, dịch vụ bán buôn, bán lẻ.... Điều này, có nguyên nhân cơ bản từ nhu cầu nội tại của các nền kinh tế thị trường mới nổi do quá trình tăng trưởng nóng kéo dài dẫn đến yêu cầu buộc phải tìm kiếm nguồn nguyên nhiên liệu bổ sung mới, đồng thời cũng là cách thức để luân chuyên vốn nhanh khi thị trường trong nước đang phải chịu sự cạnh tranh gay gắt từ nhiều đối thủ và giá nhân công cũng không còn ở mức rẻ như trước, hay đơn giản là khấu hao nốt những dây chuyên sản xuất không còn hoặc mang lại ít lợi ích khi vận hành trong nước. Việt Nam tuy là một quốc gia đi sau với tư cách là nhà đầu tư quốc tế, cũng sẽ không đi ra ngoài xu hướng chung đó. Theo đánh giá của Cục Đầu tư nước ngoài, xu hướng doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài sẽ tiếp tục bùng nổ trong thời gian 5 năm tới với lượng vốn trung bình ước tính gia tăng mỗi năm lên tới 500 triệu USD. Trong đó các tập đoàn kinh tế của Nhà nước như Dầu khí, Than - Khoáng sản, Viettel, EVN, Ngân hàng như Đầu tư và Phát triển, Công ty Sông Đà... vẫn sẽ là những kênh chính để đưa dòng vốn Việt hội nhập chung với thế giới.

Việc xuất hiện tại những thị trường khó tính như Nhật Bản hay Mỹ là những điểm sáng đáng khích lệ chứng tỏ sự tự tin và trưởng thành của doanh nghiệp Việt; nhưng thị trường các nước đang phát triển tại châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh mới thực sự là những điểm đến chiến lược của các doanh nghiệp Việt Nam. Theo đó, bên cạnh những quốc gia mà chúng ta đã có mặt và cần tiếp tục khẳng định vị thế, thì những thị trường giàu tiềm năng khác đồng thời lại có quan hệ tốt với Việt Nam như Myanmar, Mông Cổ, các quốc gia Trung Á thuộc Liên Xô cũ, các nước Carribean hay khu vực đói vốn tại Tây và Trung Phi cũng đang rất cần những dòng vốn "Made in Vietnam".



[1] Tính đến 28/2/2010